Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015

Nghị định 12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật 71 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế

Nghị định 12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật 71 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế
Ngày 12 tháng 02 năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị Định 12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế. Nội dung nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của các nghị định 50/2010/NĐ-CP, 65/2013/NĐ-CP, 83/2013/NĐ-CP,  209/2013/NĐ-CP, 218/2013/NĐ-CP, 91/2014/NĐ-CP. TamAntax xin lượt qua một số điểm sửa đổi, bổ sung (SĐBS) như sau:

1. Về Thuế TNDN:

Thu nhập chịu thuế: SĐBS thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam của doanh nghiệp nước ngoài
Thu nhập miễn thuế: SĐBS thu nhập miễn thuế của thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, chế biến nông sản, thủy sản; thu nhập từ nhiệm vụ Nhà nước giao; thu nhập của văn phòng thừa phát lại trong thời gian thực hiện thí điểm.
Khoản chi được trừ:
Bổ sung khoản chi cho hoạt động giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nghề nghiệp cho người lao động.
Lãi tiền vay trong trường hợp góp chưa đủ vốn, có xét đến tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ.
SĐBS một số quy định về ưu đãi thuế
2. Về Thuế TNCN:

Thu nhập từ kinh doanh: Không bao gồm thu nhập của cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống.
Phụ cấp, trợ cấp được trừ: Bổ sung trợ cấp chuyển vùng một lần đối với người Việt cư trú dài hạn ở nước ngoài về VN làm việc.
Thu nhập từ đầu tư vốn: Bổ sung trừ thu nhập sau khi đã nộp thuế TNDN của DNTN và của công ty TNHH MTV do cá nhân làm chủ.
Thu nhập miễn thuế: Bổ sung 2 khoản: tiền lương, tiền công của thuyền viên, thu nhập của hoạt động phục vụ khai thác thủy sản xa bờ.
Thuế TNCN đối với thu nhập từ kinh doanh: Thay đổi cách tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh.
Thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán: Chỉ còn 1 cách tính là 0,1% trên giá bán chứng khoán từng lần.
Thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng BĐS: Chỉ còn 1 cách tính là 2% trên giá chuyển nhượng.
3. Về Thuế GTGT:

Bổ sung đối tượng không chịu thuế.
Bổ sung quy định về giá đất được trừ để tính thuế GTGT.
Bổ sung không áp dụng thuế suất 0% đối với thuốc lá, rượu, bia nhập khẩu sau đó xuất khẩu.
4. Về Thuế Tài Nguyên:

Đối tượng chịu thuế: Bổ sung loại trừ nước biển làm mát máy và yến sào thu được từ hoạt động đầu tư xây dựng nhà để dẫn dụ chim yến.
Giá tính thuế: Sửa đổi giá tính thuế đối với tài nguyên xuất khẩu thì không bao gồm thuế xuất khẩu.
5. Về Luật quản lý thuế:

Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng tháng, quý chỉ còn Tờ khai thuế giá trị gia tăng tháng, quý.
Hồ sơ khai thuế tiêu thụ đặc biệt tháng chỉ còn Tờ khai thuế tiêu thụ đặc biệt tháng.
Hồ sơ khai thuế tài nguyên tháng là Tờ khai thuế tài nguyên tháng.
Bổ sung điều 26a quy định về đồng tiền nộp thuế và xác định doanh thu, chi phí, giá tính thuế, các khoản thuế.
Bổ sung điều 28a xử lý việc chậm nộp thuế.
SĐBS về gia hạn nộp thuế
Trên đây là sơ lược một số nội dung mà tôi rút ra được khi xem Nghị Định 12/2015/NĐ-CP. TamAntax xin mời anh chị em tải về xem chi tiết văn bản Nghị Định 12/2015/NĐ-CP để nắm rõ nội dung chi tiết hơn. Chúng ta cũng chờ Bộ Tài Chính ban hànhh thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành một số nội dung nữa là có thể áp dụng.

Nguyễn Hải Tâm – TamAntax

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2015

Phạt nặng DN “quên” nghĩa vụ thông tin

Phạt nặng DN “quên” nghĩa vụ thông tin
Hàng loạt chế tài mới theo hướng tăng nặng đối với hành vi vi phạm công bố thông tin của công ty đại chúng, bắt đầu có hiệu lực từ hôm nay (15-11).

“Ông lớn” cũng vi phạm


Có 3 loại hình công ty đại chúng theo quy định của Luật Chứng khoán gồm: công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở GDCK; công ty có cổ phiếu được ít nhất 100 nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ đồng trở lên.

Theo quy định tại Thông tư 52/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về công bố thông tin trên TTCK, các công ty đại chúng phải công bố đầy đủ nội dung thông tin về báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán trên trang thông tin điện tử của công ty đại chúng và trên phương tiện công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK)…

Nếu chiểu theo quy định này, thì trong số hàng nghìn công ty đại chúng đã đăng ký với UBCK, có rất nhiều đơn vị vi phạm.

Điển hình như trên Trang công bố thông tin của UBCK, tuy đã gần hết năm 2013, nhưng hiện nhà đầu tư không tìm thấy thông tin về báo cáo tài chính năm 2012 của một loạt “ông lớn” như: Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank), Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), Ngân hàng TMCP Phát triển Mê Kông (MDB)…

Ngoài lỗi phổ biến là không công bố thông tin tài chính, nhiều thông tin quan trọng khác cũng không được công ty đại chúng công bố theo quy định như: thay đổi cơ cấu cổ đông, cập nhật kết quả kinh doanh…

Điều dễ nhận thấy là các thông tin ít trọng yếu hơn như: thay đổi nhân sự, điều chỉnh giấy phép kinh doanh… lại được các doanh nghiệp cập nhật khá đều đặn.

Tuy đã gần hết năm 2013, nhưng nhiều doanh nghiệp gần như không cập nhật thông tin về các mặt hoạt động của mình trong năm nay, để cổ đông nắm bắt.

Phạt nặng để răn đe

Bắt đầu từ hôm nay (15-11), Nghị định 108/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK, có hiệu lực.

Ngoài bổ sung các hành vi mới bị xử phạt, Nghị định 108/2013 còn đưa ra nhiều chế tài xử lý theo hướng tăng nặng đối với các hành vi vi phạm của công ty đại chúng.

Điển hình như, phạt từ 30 – 50 triệu đồng nếu công ty đại chúng không đăng ký, lưu ký chứng khoán tập trung tại Trung tâm lưu ký (VSD); vi phạm quy định về thực hiện quyền, đăng ký, lưu ký chứng khoán tại VSD…

Khác với quy định trước đây, Nghị định 108/2013 không quy định chung chung các trường hợp công ty đại chúng bị xử phạt khi không tuân thủ các quy định về quản trị công ty, mà đưa ra các quy định cụ thể như: phạt 50 – 70 triệu đồng đối với thành viên HĐQT, thành viên Ban kiểm soát, giám đốc và cán bộ quản lý khác của công ty đại chúng không tuân thủ đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ về quản trị công ty theo quy định của pháp luật; phạt từ 70 – 100 triệu đồng đối với các hành vi vi phạm quy định pháp luật về quản trị công ty, về bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm thành viên HĐQT, thành viên Ban kiểm soát…

Nghị định 108/2013 còn quy định công ty đại chúng bị phạt từ 10 – 30 triệu đồng nếu không tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật về phương tiện, hình thức công bố thông tin.

Theo quy định của Thông tư 52/2012, các công ty đại chúng, ngoài việc phải công bố đầy đủ nội dung thông tin về báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp và trên phương tiện công bố thông tin của UBCK, công ty đại chúng còn phải đồng thời đăng tải ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính năm trên một số báo có phạm vi phát hành trên toàn quốc để nhà đầu tư tham khảo…

Ngoài ra, một loạt các hành vi vi phạm khác của công ty đại chúng cũng bị áp dụng các chế tài xử phạt nặng hơn so với các quy định trước đây như: phạt 70 – 100 triệu đồng đối với hành vi công ty đại chúng không lập trang thông tin điện tử, công bố thông tin có nội dung không chính xác…

Với quy định mới, UBCK cho biết, cơ quan này hy vọng các doanh nghiệp sẽ tuân thủ nghiêm túc hơn nghĩa vụ công bố thông tin, thúc đấy sự minh bạch trên TTCK.

Nguồn báo SG ĐTTC

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

Quy định mới về tuyển dụng và báo cáo tình hình sử dụng lao động

Quy định mới về tuyển dụng và báo cáo tình hình sử dụng lao động
Ngày 29/08/2014, Bộ Lao Động – Thương Binh và Xã Hội đã ban hành Thông tư số 23/2014/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 03/2014/NĐ-CP ngày 16/01/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của bộ luật lao động Việt Nam về việc làm.

Cụ thể, thông tư này hướng dẫn thực hiện về chỉ tiêu tạo việc làm tăng thêm, tuyển lao động, báo cáo sử dụng lao động, lập và quản lý sổ quản lý lao động. Theo đó, chúng tôi xin tổng hợp một số điểm đáng chú ý sau:

Ít nhất 05 ngày làm việc trước ngày nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động, người sử dụng lao động hoặc tổ chức dịch vụ việc làm hoặc doanh nghiệp cho thuê lại lao động phải thông báo công khai về nhu cầu tuyển lao động. Doanh nghiệp có thể lựa chọn việc thông báo công khai tuyển dụng thông qua một trong các hình thức sau:

Niêm yết tại trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện nơi tuyển lao động;
Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
thongtu2Người lao động đăng ký dự tuyển lao động theo mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư 23/2014/Tt-BLĐTBXH. Người lao động có nhu cầu trả lại hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động  phải thực hiện yêu cầu bằng văn bản trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày thông báo kết quả tuyển lao động.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bắt đầu hoạt động, người sử dụng lao động phải khai trình việc sử dụng lao động với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (đối với người sử dụng lao động thuộc khu công nghiệp) nơi đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện. Việc khai trình được thực hiện theo mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư 23/2014/Tt-BLĐTBXH.

Người sử dụng lao động phải báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 03/2014/NĐ-CP trước ngày 25 tháng 5 và ngày 25 tháng 11 hằng năm theo mẫu số 07 ban hành kèm theo Thông tư 23/2014/Tt-BLĐTBXH..                          

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bắt đầu hoạt động, người sử dụng lao động phải lập sổ quản lý lao động nơi đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện.

Người sử dụng lao động có quyền lựa chọn hình thức sổ quản lý lao động bằng bản giấy hoặc bản điện tử phù hợp với nhu cầu quản lý nhưng phải đảm bảo các nội dung cơ bản về người lao động sau đây:

+ Họ và tên, giới tính, năm sinh, quốc tịch, địa chỉ, số chứng minh nhân dân (hoặc hộ chiếu);

+ Trình độ chuyên môn kỹ thuật;

+ Bậc trình độ kỹ năng nghề;

+ Vị trí việc làm;

+ Loại hợp đồng lao động;

+ Thời điểm bắt đầu làm việc;

+ Tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp;

+ Tiền lương;

+ Nâng bậc, nâng lương;

+ Số ngày nghỉ trong năm, lý do;

+ Số giờ làm thêm (vào ngày thường; nghỉ hằng tuần; nghỉ hằng năm; nghỉ lễ, tết);

+ Hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;

+ Học nghề, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề;

+ Kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất;

+ Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

+ Thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động và lý do.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 10 năm 2014.

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2015

Định nghĩa cơ sở thường trú

Định nghĩa cơ sở thường trú
Định nghĩa cơ sở thường trú dưới đây được trích từ Thông tư 205/2013/TT-BTC. Thông tư này hướng dẫn những nội dung cơ bản của các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ (dưới đây gọi chung là Nước ký kết hoặc nước tùy theo ngữ cảnh) có hiệu lực thi hành tại Việt Nam (dưới đây gọi tắt là Hiệp định).

1. Theo quy định tại Hiệp định, “cơ sở thường trú” là một cơ sở kinh doanh cố định của một doanh nghiệp, thông qua đó, doanh nghiệp thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh của mình.

Một doanh nghiệp của Nước ký kết được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam nếu hội đủ ba điều kiện dưới đây:

a) Duy trì tại Việt Nam một “cơ sở” như một tòa nhà, một văn phòng hoặc một phần của tòa nhà hay văn phòng đó, một phương tiện hoặc thiết bị,…; và

b) Cơ sở này có tính chất cố định, nghĩa là được thiết lập tại một địa điểm xác định và/hoặc được duy trì thường xuyên. Tính cố định của cơ sở kinh doanh không nhất thiết phụ thuộc vào việc cơ sở đó phải được gắn liền với một vị trí địa lý cụ thể trong một độ dài thời gian nhất định; và

c) Doanh nghiệp tiến hành toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở này.

Ví dụ 8: Công ty X của Trung Quốc mở một gian hàng tại một khu chợ tết của Việt Nam, thông qua gian hàng này công ty X bán các hàng hóa tại hội chợ. Khi đó, gian hàng này sẽ được coi là cơ sở thường trú của công ty X tại Việt Nam.

2. Một doanh nghiệp của một Nước ký kết sẽ được coi là tiến hành hoạt động kinh doanh thông qua một cơ sở thường trú tại Việt Nam trong các trường hợp chủ yếu sau đây:

a) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam: trụ sở điều hành, chi nhánh (như chi nhánh công ty luật, chi nhánh văn phòng nước ngoài, chi nhánh các công ty thuốc lá, chi nhánh ngân hàng,…), văn phòng (kể cả văn phòng đại diện thương mại nếu có thương lượng, ký kết hợp đồng thương mại), nhà máy, xưởng sản xuất, mỏ, giếng dầu hoặc khí, kho giao nhận hàng hoá, địa điểm thăm dò hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên, hoặc có các thiết bị, phương tiện phục vụ cho việc thăm dò khai thác tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam.

Ví dụ 9: Một nhà thầu phụ nước ngoài sử dụng phương tiện, thiết bị và nhân công tham gia vào hoạt động khoan thăm dò dầu khí tại Việt Nam sẽ được coi là tiến hành hoạt động kinh doanh thông qua một cơ sở thường trú tại Việt Nam.

b) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một địa điểm xây dựng, một công trình xây dựng, lắp đặt hoặc lắp ráp, hoặc tiến hành các hoạt động giám sát liên quan đến các địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt hoặc lắp ráp nói trên với điều kiện các địa điểm, công trình hoặc các hoạt động giám sát đó kéo dài hơn 6 tháng hoặc 3 tháng (tùy theo từng Hiệp định cụ thể) tại Việt Nam.

Địa điểm, công trình xây dựng hoặc lắp đặt bao gồm địa điểm, công trình xây dựng nhà cửa, đường xá, cầu cống, lắp đặt đường ống, khai quật, nạo vét sông ngòi,… Thời gian (6 tháng hoặc 3 tháng) được tính từ ngày nhà thầu bắt đầu công việc chuẩn bị cho công trình xây dựng tại Việt Nam, như thành lập văn phòng xây dựng kế hoạch thi công, cho đến khi công trình hoàn thiện, bàn giao toàn bộ tại Việt Nam, kể cả thời gian công trình bị gián đoạn do mọi nguyên nhân.

Các nhà thầu phụ của Nước ký kết tham gia vào các công trình xây dựng, lắp đặt hoặc lắp ráp nêu trên cũng được coi là tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thông qua cơ sở thường trú nếu hội đủ các điều kiện tại Điểm 1.2.1 nêu trên.

Thời gian thực hiện công trình để xác định cơ sở thường trú cho nhà thầu chính bao gồm tổng cộng thời gian thực hiện các phần hợp đồng của các nhà thầu phụ và thời gian thực hiện của nhà thầu chính.

Ví dụ 10: Công ty Z của Nhật Bản trúng thầu xây dựng một chiếc cầu tại Việt Nam. Hoạt động thi công cầu diễn ra như sau: 5 tháng thi công xây dựng trụ cầu do một nhà thầu phụ Y cũng là một công ty Nhật Bản đảm nhiệm và 3 tháng thi công sàn cầu và hoàn thiện do nhà thầu Z tự thực hiện. Trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 5, Khoản 3, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản, công ty Z được coi là tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thông qua một cơ sở thường trú vì tổng thời gian thi công cầu là 8 tháng (5 tháng + 3 tháng); Công ty Y không được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam.

c) Doanh nghiệp đó thực hiện việc cung cấp dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư vấn ở Việt Nam thông qua nhân viên của doanh nghiệp hoặc một đối tượng khác với điều kiện các hoạt động dịch vụ nói trên trong một dự án hoặc các dự án có liên quan, kéo dài tại Việt Nam trong một khoảng thời gian hay nhiều khoảng thời gian gộp lại quá 183 ngày trong mỗi giai đoạn 12 tháng.

Ví dụ 11: Hãng sản xuất máy bay Đ của Thuỵ Điển ký hợp đồng dịch vụ bảo dưỡng máy bay với hãng Hàng không Việt Nam. Theo hợp đồng, trong giai đoạn từ ngày 01/6/2010 đến ngày 30/5/2011, hãng Đ đã cử các đoàn chuyên gia kỹ thuật sang Việt Nam làm việc với tổng số thời gian có mặt tại Việt Nam 190 ngày. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 4, Điều 5, Hiệp định giữa Việt Nam và Thụy Điển, hãng Đ được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam do các đoàn chuyên gia kỹ thuật đã làm việc tại Việt Nam vượt quá 6 tháng trong giai đoạn 12 tháng.

Ví dụ 12: Công ty tư vấn N của Nhật Bản ký các hợp đồng dịch vụ tư vấn với chủ đầu tư của Dự án xây dựng Nhà máy điện V tại Việt Nam như sau: i) hợp đồng dịch vụ tư vấn xây dựng nhà máy điện kéo dài 4 tháng từ ngày 01/8/2010 đến ngày 30/11/2010, và ii) hợp đồng dịch vụ tư vấn lắp đặt hệ thống máy phát điện kéo dài 3 tháng từ ngày 01/01/2011 đến ngày 31/3/2011. Cả hai hợp đồng đều yêu cầu sự hiện diện của đại diện Công ty tư vấn N tại hiện trường xây dựng và lắp đặt Nhà máy điện V để triển khai công việc trong suốt thời hạn hợp đồng. Để thực hiện hợp đồng dịch vụ tư vấn lắp đặt nhà máy điện, Công ty tư vấn N đã thuê một Công ty tư vấn B của Nhật Bản thực hiện với tư cách đại diện cho Công ty. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 4, Điều 5, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản, Công ty tư vấn N được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam do sự hiện diện của đại diện Công ty tại Dự án tại Việt Nam vượt quá 6 tháng trong giai đoạn 12 tháng; Công ty tư vấn B không được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam do sự hiện diện của Công ty tại Việt Nam không quá 6 tháng.

Ví dụ 13: Với các giả định như Ví dụ 12, nếu Công ty tư vấn B và chủ đầu tư của Dự án còn ký một hiệp định tư vấn trong giai đoạn chạy thử từ ngày 01/4/2011 đến ngày 30/7/2011. Hợp đồng cũng yêu cầu đại diện của Công ty tư vấn B hiện diện trong suốt thời hạn hợp đồng tại hiện trường chạy thử Nhà máy điện V. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 4, Điều 5, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản, Công ty tư vấn B được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam do sự hiện diện của đại diện Công ty tại Dự án tại Việt Nam vượt quá 6 tháng trong giai đoạn 12 tháng.

Liên quan đến việc cung cấp dịch vụ, mặc dù tại Hiệp định có quy định cơ sở thường trú bao gồm việc cung cấp dịch vụ bao gồm cả dịch vụ tư vấn ở Việt Nam thông qua nhân viên của doanh nghiệp hoặc một đối tượng khác với điều kiện các hoạt động dịch vụ nói trên trong một dự án hoặc các dự án có liên quan, kéo dài tại Việt Nam trong một khoảng thời gian hay nhiều khoảng thời gian gộp lại quá 183 ngày trong mỗi giai đoạn 12 tháng, nhưng do tính chất của dịch vụ, thời gian cung cấp dịch vụ không kéo dài quá 6 tháng trong một giai đoạn 12 tháng, trong khi đó, ba điều kiện về cơ sở thường trú tại Điểm 1.2.1 nêu trên vẫn thỏa mãn thì việc cung cấp dịch vụ vẫn được coi là có một cơ sở thường trú tại Việt Nam.

Ví dụ 14: Hãng sản xuất máy bay Đ của Thuỵ Điển ký hợp đồng dịch vụ bảo dưỡng định kỳ máy bay với hãng Hàng không Việt Nam trong thời gian hai năm. Theo hợp đồng, hàng năm, Hãng Đ đều cử các đoàn chuyên gia kỹ thuật sang Việt Nam làm việc với tổng số thời gian có mặt tại Việt Nam 90 ngày tại địa điểm bảo dưỡng máy bay. Trong trường hợp này, theo quy định tại Khoản 1, Điều 5, Hiệp định giữa Việt Nam và Thụy Điển, hãng Đ được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam do định kỳ hàng năm các đoàn chuyên gia kỹ thuật đã làm việc tại Việt Nam tại một địa điểm cố định tại Việt Nam (các máy bay được bảo dưỡng).

d) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một đại lý môi giới, đại lý hoa hồng hoặc bất kỳ một đại lý nào khác, nếu các đại lý đó dành toàn bộ hoặc phần lớn hoạt động của mình cho doanh nghiệp đó (đại lý phụ thuộc).

Ví dụ 15: Công ty V là đối tượng cư trú của Việt Nam ký hợp đồng đại lý với chức năng lưu kho và giao sản phẩm sơn cho một công ty H là đối tượng cư trú của Anh. Theo quy định tại hợp đồng, công ty V không được phép làm đại lý cho bất cứ một nhà sản xuất hoặc phân phối sơn nào khác. Trường hợp này, mặc dù không có chức năng ký kết hợp đồng hoặc thu tiền tại Việt Nam nhưng công ty V đã trở thành đại lý phụ thuộc của Công ty H, không còn là đại lý độc lập nữa. Theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Anh (Khoản 6, Điều 5: Cơ sở thường trú) công ty H được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam.

đ) Doanh nghiệp đó uỷ quyền cho một đối tượng tại Việt Nam:

– Thẩm quyền thường xuyên thương lượng, ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp đó; hoặc ký các hợp đồng mang tên đối tượng đó nhưng ràng buộc nghĩa vụ hoặc trách nhiệm của doanh nghiệp đó; hoặc

– Không có thẩm quyền thương lượng, ký kết hợp đồng, nhưng có quyền thường xuyên đại diện cho doanh nghiệp đó giao hàng hóa tại Việt Nam.

3. Một doanh nghiệp nước ngoài sẽ được coi là không có cơ sở thường trú tại Việt Nam trong các trường hợp sau đây:

a) Doanh nghiệp đó sử dụng các phương tiện chỉ nhằm mục đích lưu kho, trưng bày hàng hóa của doanh nghiệp.

b) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một kho hàng hóa chỉ nhằm mục đích lưu kho, trưng bày hoặc để cho một doanh nghiệp khác gia công.

c) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một cơ sở kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích mua hàng hóa hoặc thu thập thông tin cho doanh nghiệp.

d) Doanh nghiệp đó có tại Việt Nam một cơ sở kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích tiến hành các hoạt động chuẩn bị hoặc phụ trợ cho doanh nghiệp.

4. Trường hợp một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam kiểm soát hoặc chịu sự kiểm soát bởi một công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam, hoặc đang tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam (có thể thông qua cơ sở thường trú hoặc dưới hình thức khác) sẽ không làm cho bất kỳ công ty nào trở thành cơ sở thường trú của công ty kia.

Ví dụ 16: Một doanh nghiệp nước ngoài góp vốn thành lập một doanh nghiệp liên doanh hoặc một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Khi đó, doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài này không được coi là các cơ sở thường trú tại Việt Nam của doanh nghiệp nước ngoài đó.

Tuy nhiên, trường hợp công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam góp vốn thành lập một doanh nghiệp liên doanh hoặc một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam (bao gồm cả doanh nghiệp chế xuất) thì công ty đó sẽ được coi như có một cơ sở thường trú tại Việt Nam nếu:

– Doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thường xuyên thương lượng, ký kết hợp đồng đứng tên công ty đó; hoặc ký các hợp đồng đứng tên doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng ràng buộc nghĩa vụ hoặc trách nhiệm của công ty nước ngoài; hoặc

– Doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thường xuyên đại diện cho công ty nước ngoài giao hàng hóa tại Việt Nam; hoặc

– Công ty nước ngoài đó có quyền định đoạt đối với cơ sở vật chất – kỹ thuật của doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đó trong quá trình sản xuất kinh doanh (nghĩa là, việc công ty nước ngoài sử dụng các cơ sở vật chất – kỹ thuật của doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam (nếu có) trong quá trình sản xuất kinh doanh không phải trên cơ sở nguyên tắc giá thị trường).

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Quy định mới về tuyển dụng và báo cáo tình hình sử dụng lao động

Quy định mới về tuyển dụng và báo cáo tình hình sử dụng lao động
Ngày 29/08/2014, Bộ Lao Động – Thương Binh và Xã Hội đã ban hành Thông tư số 23/2014/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 03/2014/NĐ-CP ngày 16/01/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của bộ luật lao động Việt Nam về việc làm.

Cụ thể, thông tư này hướng dẫn thực hiện về chỉ tiêu tạo việc làm tăng thêm, tuyển lao động, báo cáo sử dụng lao động, lập và quản lý sổ quản lý lao động. Theo đó, chúng tôi xin tổng hợp một số điểm đáng chú ý sau:

Ít nhất 05 ngày làm việc trước ngày nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động, người sử dụng lao động hoặc tổ chức dịch vụ việc làm hoặc doanh nghiệp cho thuê lại lao động phải thông báo công khai về nhu cầu tuyển lao động. Doanh nghiệp có thể lựa chọn việc thông báo công khai tuyển dụng thông qua một trong các hình thức sau:

Niêm yết tại trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện nơi tuyển lao động;
Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
thongtu2Người lao động đăng ký dự tuyển lao động theo mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư 23/2014/Tt-BLĐTBXH. Người lao động có nhu cầu trả lại hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động  phải thực hiện yêu cầu bằng văn bản trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày thông báo kết quả tuyển lao động.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bắt đầu hoạt động, người sử dụng lao động phải khai trình việc sử dụng lao động với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (đối với người sử dụng lao động thuộc khu công nghiệp) nơi đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện. Việc khai trình được thực hiện theo mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư 23/2014/Tt-BLĐTBXH.

Người sử dụng lao động phải báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 03/2014/NĐ-CP trước ngày 25 tháng 5 và ngày 25 tháng 11 hằng năm theo mẫu số 07 ban hành kèm theo Thông tư 23/2014/Tt-BLĐTBXH..                          

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bắt đầu hoạt động, người sử dụng lao động phải lập sổ quản lý lao động nơi đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện.

Người sử dụng lao động có quyền lựa chọn hình thức sổ quản lý lao động bằng bản giấy hoặc bản điện tử phù hợp với nhu cầu quản lý nhưng phải đảm bảo các nội dung cơ bản về người lao động sau đây:

+ Họ và tên, giới tính, năm sinh, quốc tịch, địa chỉ, số chứng minh nhân dân (hoặc hộ chiếu);

+ Trình độ chuyên môn kỹ thuật;

+ Bậc trình độ kỹ năng nghề;

+ Vị trí việc làm;

+ Loại hợp đồng lao động;

+ Thời điểm bắt đầu làm việc;

+ Tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp;

+ Tiền lương;

+ Nâng bậc, nâng lương;

+ Số ngày nghỉ trong năm, lý do;

+ Số giờ làm thêm (vào ngày thường; nghỉ hằng tuần; nghỉ hằng năm; nghỉ lễ, tết);

+ Hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;

+ Học nghề, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề;

+ Kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất;

+ Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

+ Thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động và lý do.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 10 năm 2014.

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

Thông tư 202/2014/TT-BTC về báo cáo tài chính hợp nhất

Giới thiệu Thông tư 202/2014/TT-BTC
Ngày 22 tháng 12 năm 2014, Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư 202/2014/TT-BTC hướng dẫn lập và trình bày BCTC hợp nhất, thay thế Thông tư 161/2007/TT-BTC. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Thông tư 202/2014/TT-BTC:

  • Hướng dẫn phương pháp lập và trình bày Báo cáo tài chính hợp nhất đối với các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh, liên kết và phương pháp kế toán xử lý các giao dịch giữa các đơn vị trong nội bộ tập đoàn, giữa tập đoàn và công ty liên doanh, liên kết.
  • Áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động dưới hình thức công ty mẹ – công ty con thuộc các ngành, các thành phần kinh tế khi lập và trình bày Báo cáo tài chính hợp nhất.
  • Doanh nghiệp được vận dụng các nguyên tắc hợp nhất của Thông tư này để lập Báo cáo tài chính tổng hợp giữa doanh nghiệp và các đơn vị trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc.

Một số điểm mới của Thông tư 202/2014/TT-BTC




  • Bổ sung các quy định cụ thể về nguyên tắc lập BCTC hợp nhất như: Ghi nhận chênh lệch giữa giá trị hợp lý (FV) và giá trị ghi sổ (NBV) trong tài sản thuần của công ty con; Ghi nhận thuế hoãn lại từ hợp nhất kinh doanh; Xử lý lợi thế thương mại hoặc lãi từ giao dịch mua rẻ theo CMKTQT; …;
  • Lợi ích cổ đông không kiểm soát: Tách lợi ích cổ đông không kiểm soát theo 2 phương pháp (bổ sung một phương pháp mới);
  • Bổ sung một mục riêng để xử lý cổ tức ưu đãi của cổ đông không kiểm soát và quỹ khen thưởng phúc lợi (mới hoàn toàn);
  • Loại trừ các giao dịch nội bộ: Bổ sung một số giao dịch mới như góp vốn vào công ty con bằng tài sản phi tiền tệ; Xử lý cổ tức bằng cổ phiếu theo Nghị định 71/CP; Sửa đổi phương pháp hợp nhất đối với các khoản cho vay trong nội bộ…;
  • Bổ sung Một chương riêng hoàn toàn mới để xử lý các khoản dự phòng trong doanh nghiệp trên BCTCHN;
  • Bổ sung một chương riêng mới hoàn toàn để giải quyết việc tái cấu trúc tập đoàn, gồm 3 nội dung: Thoái đầu tư; Công ty con phát hành cổ phiếu riêng lẻ; Hợp nhất kinh doanh dưới sự kiểm soát chung (tập đoàn ngang chuyển thành tập đoàn dọc và ngược lại).
  • Bổ sung một chương riêng mới hoàn toàn để xử lý hợp nhất cho tập đoàn đa cấp và sở hữu chéo (tập đoàn dọc);
  • Bổ sung một chương riêng mới hoàn toàn hướng dẫn Báo cáo lưu chuyển tệ hợp nhất;
  • Bổ sung một chương riêng về phương pháp vốn chủ sở hữu đối với các khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết; …

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Thông tư 166 xử phạt vi phạm hành chính về thuế

Thông tư 166 xử phạt vi phạm hành chính về thuế
Bộ Tài Chính vừa ban hành Thông tư 166/2013/TT-BTC quy định chi tiết về xử phạt hành chính về thuế, theo đó, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế có bổ sung thay đổi so với quy định cũ, cụ thể:

- Đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế thì thời hiệu xử phạt là 02 năm, kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện đến ngày ra quyết định xử phạt. Ngày thực hiện hành vi vi phạm hành chính về thủ tục thuế là ngày kế tiếp ngày kết thúc thời hạn phải thực hiện thủ tục về thuế theo quy định của Luật quản lý thuế.

- Đối với trường hợp làm thủ tục thuế bằng điện tử thì ngày thực hiện hành vi vi phạm hành chính về thuế là ngày kế tiếp ngày kết thúc thời hạn làm thủ tục thuế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Theo quy định cũ, thời hạn truy thu thuế là vô thời hiệu  nhưng theo khoản 2, Điều 4 thông tư 166 thì nếu quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 10 năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.

images

Đối với hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định thì:

♦  Phạt cảnh cáo đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày đến 05 ngày mà có tình tiết giảm nhẹ.

♦  Phạt tiền 700.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 400.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 1.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày đến 10 ngày (trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này).

♦  Phạt tiền 1.400.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không dưới 800.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 2.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ trên 10 ngày đến 20 ngày.

♦  Phạt tiền 2.100.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 1.200.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 3.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ trên 20 ngày đến 30 ngày.

♦  Phạt tiền 2.800.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 1.600.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 4.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế cho cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ trên 30 ngày đến 40 ngày.

♦  Phạt tiền 3.500.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 2.000.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 5.000.000 đồng

Ngoài ra, thông tư cũng nêu rõ trường hợp hàng hoá vận chuyển trên đường không có hoá đơn, chứng từ hợp pháp thì sẽ bị phạt tiền bằng 1 đến 3 lần số thuế trốn, số thuế gian lận, tùy theo số lần tái phạm và số tình tiết giảm nhẹ

Bên cạnh đó, người nộp thuế đang trong thời gian xin tạm ngừng kinh doanh nhưng thực tế vẫn kinh doanh cũng thuộc trường hợp bị phạt tiền 1 lần trên số thuế trốn, gian lận, nếu có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.

Thông tư này thay thế Thông tư số 61/2007/TT-BTC ngày 14 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện xử lý vi phạm pháp luật về thuế.

Áp dụng văn bản xử phạt vi phạm hành chính về thuế

+ Việc xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính về thuế đã xảy ra trước ngày 15 tháng 12 năm 2013 áp dụng theo quy định của pháp luật có hiệu lực thi hành tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm.

+ Áp dụng các quy định về xử phạt; quy định về hoãn thi hành quyết định xử phạt, miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính về thuế và các quy định về xử phạt khác có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính về thuế quy định tại Thông tư này đối với hành vi vi phạm hành chính về thuế xảy ra trước ngày 15 tháng 12 năm 2013 mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết.

+  Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế còn khiếu nại thì áp dụng quy định của pháp luật có hiệu lực thi hành tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm để giải quyết.